Tuyên truyền các bệnh thường gặp khi giao mùa
Thời điểm giao mùa từ hè sang thu hoặc từ thu sang đông …có sự biến đổi thời tiết bất lợi cho sức khỏe của mọi người, những ngày nắng nóng oi bức, lạnh xen lẫn những ngày mưa dầm khiến độ ẩm không khí tăng cao. Chính sự thay đổi này đã tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, vi rút nhân lên mạnh, gây ra hàng loạt căn bệnh như: tiêu chảy, viêm phổi, viêm phế quản… chưa kể đây là thời điểm bùng phát của nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm như cúm, bệnh tay-chân-miệng, sốt xuất huyết…
Nhìn chung, có một số bệnh thường xảy ra vào thời điểm giao mùa mà chúng ta cần cảnh giác, đó là:
I.Các bệnh lý về đường hô hấp:
1.Viêm mũi họng cấp tính:
Triệu chứng gồm đau họng kèm sốt, ho, ngạt mũi nhất là vào ban đêm. Sốt viêm họng thường nhẹ từ 37,5 độ đến 38 độ, tuy vậy cũng có trường hợp sốt cao. Một số trường hợp có viêm họng kèm viêm amidan, sốt cao 39-40 độ, nuốt vướng, họng có mủ hay giả mạc trắng. Bệnh thường do viruts nhóm Adeno hoặc viruts hợp bào hô hấp, nếu không được điều trị đúng cách có thể gây bội nhiễm các loại vi khuẩn như liên cầu, Hemophilus Influenza…
2.Viêm phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phổi:
Bệnh thường nặng hơn và nguy hiểm về đêm, khi nhiệt độ giảm. Bệnh nhân thường sốt cao, ho nhiều, khạc đờm đục, khó thở nếu không được điều trị kịp thời.
3.Viêm tiểu phế quản:
Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ, nhất là từ 3-6 tháng tuổi. Khi mắc bệnh, các phế quản nhỏ này bị viêm, phù nề, tiết nhiều dịch làm cho đường thở của trẻ bị chít hẹp thậm chí tắc nghẽn, kèm theo trẻ bị ho, chảy nước mũi trong, sốt vừa hoặc cao. Sau từ 3-5 ngày trẻ ho ngày một nhiều, xuất hiện thở khó, thở rít. Những trường hợp nặng xuất hiện tím tái, thậm chí ngừng thở. Thông thường, trẻ thở khò khè kéo dài khoảng 7 ngày, ho giảm dần trong khoảng 14 ngày rồi khỏi hẳn nếu được chăm sóc tốt. Biến chứng thường gặp là viêm phổi, xẹp phổi, viêm tai giữa…
4.Bệnh cúm:
Cúm là loại bệnh rất dễ gây thành dịch vào thời điểm giao mùa. Bệnh do viruts cúm Influenza gây nên, có 3 chủng cúm là cúm A, cúm B, cúm C trong đó cúm A là nguy hiểm nhất, gây tử vong với tỷ lệ cao cho người bệnh. Hiện có 2 loại cúm A đang lưu hành trong khu vực là cúm A/H7N9 (ở Trung Quốc) và cúm A/H5N1 (cúm gia cầm ở một số nước Đông Nam Á). Bệnh nhân nhiễm cúm thường có các triệu chứng: Sốt, đau mỏi các khớp xương, đau đầu, hắt hơi, sổ mũi, ho. Nếu bệnh nặng thêm có các triệu chứng như khó thở, đau ngực, tím tái, chân tay lạnh, xuất huyết… Khi đó, bệnh nhân cần phải nhập viện theo dõi và điều trị đặc hiệu để tránh các biến chứng nguy hiểm đe dọa đến tính mạng.
II.Bệnh lý về tiêu hóa:
1.Bệnh tiêu chảy cấp:
Mưa nhiều, độ ẩm không khí cáo là môi trường thuận lợi cho các loại vi khuẩn, viruts và nấm mốc phát triển trong thực phẩm gây ngộ độc thức ăn ở trẻ nhỏ. Một số vi khuẩn hay gây tiêu chảy cấp là: Vi khuẩn như: tả, lỵ, thương hàn, E.coli, độc tố ruột của vi khuẩn tụ cầu, độc tố vi khuẩn Clostridium botilium… vi rút Rota hay gặp ở trẻ dưới 5 tuổi. Các tác nhân gây bệnh theo thức ăn vào ruột gây viêm ruột cấp tính, rối loạn hấp thụ. Bệnh khởi phát đột ngột, bệnh nhân bị đau bụng, nôn, sốt, bụng trướng, đi ngoài phân lỏng nhiều lần trong ngày, có nhầy, có thể có máu hoặc phân màu xám rêu… Nếu bị tiêu chảy ở cấp độ mất nước nặng có thể dẫn đến co giật, trụy mạch, đe dọa đến tính mạng người bệnh.
2. Bệnh tay-chân-miệng:
Thường gặp ở trẻ em lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo, do 2 nhóm virut EV71 và Coxackie A16 gây nên. Trẻ bị bệnh có các biểu hiện: Sốt, rối loạn tiêu hóa, quấy khóc, ngủ hay giật mình, da lòng bàn tay, bàn chân, mông, gối có các ban hồng và các phỏng nước nhỏ 2-3mm. Trong miệng, lưỡi của trẻ cũng có những vết phỏng loét khiến trẻ đau rát, không chịu ăn, chảy dãi nhiều và hay nôn. Nặng hơn có thể gặp các biến chứng tim mạch, hô hấp, thần kinh có thể gây tử vong cho trẻ.
3.Bệnh sốt xuất huyết:
Là bệnh nhiễm trùng cấp tính do viruts Dengue gây nên với đặc điểm lâm sàng là xuất huyết và trụy mạch. Bệnh lây lan do muổi đốt, vì thế thường gặp ở những nơi đông dân cư, vệ sinh môi trường kém. Bệnh thường bắt đầu vào khoảng tháng 5-6 và cao điểm vào khoảng tháng 8-10 khi nhiệt độ và mưa nhiều phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của muỗi. Khi bị sốt xuất huyết, bệnh nhân thường sốt cao, đau mỏi người, đau đầu, sau đó các triệu chứng xuất huyết dần xuất hiện. Xuất huyết có thể tự nhiên dưới dạng chấm, nốt, bầm tím hoặc chảy máu cam, chảy máu chân răng,… Nếu không được điều trị đúng và đầy đủ rất dễ trụy mạch và tử vong.
III. Một số biện pháp phòng bệnh:
- Đảm bảo vệ sinh cá nhân, an toàn thực phẩm, ăn chín, uống chín, hạn chế tối đa việc ăn thức ăn đường phố…
- Dinh dưỡng hợp lý, bổ sung đầy đủ các thành phần dinh dưỡng như chất đạm, khoáng và các vitamin, uống nước đầy đủ, hạn chế uống nước đá, nước lạnh.
- Giữ vệ sinh mũi họng, chân tay bằng cách súc miệng, nhỏ mũi bằng nước muối sinh lý, rửa tay bằng xà phòng, nước sát khuẩn… Nên tắm nước ấm thay vì nước lạnh, đeo khẩu trang khi đi ra ngoài để tránh nhiễm khuẩn, khói bụi bẩn…
- Tạo môi trường sạch sẽ, thoáng mát nơi ở, nơi làm việc, khu dân cư, vệ sinh nguồn nước. Diệt ruồi, muỗi, bọ gậy, chuột là những trung gian truyền bệnh nguy hiểm.
- Điều trị các bệnh mạn tính nếu có như: hen, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, tiểu đường.
- Hạn chế tiếp xúc với người bị mắc các bệnh truyền nhiễm. Người mắc bệnh phải được nghỉ ngơi, điều trị đúng phương pháp và không tiếp xúc với người khác để tránh phát tán mầm bệnh ra cộng đồng.
- Chủ động tiêm vắc xin phòng bệnh, đặc biệt là cho trẻ em, người suy giảm sức đề kháng như tiêm vắc xin phòng cúm hàng năm, tiêm vắc xin phòng phế cầu, Hemophilus influenza… Uống vắc xin phòng tiêu chảy do viruts Rota cho trẻ em.
